
Vài Nét Về Trà
Ngày tháng: 13/06/2005
Phó Đức Lâm, Toronto, 12.06.2005
Nhân dịp mừng Đệ Nhị chu niên ngày thành lập: www.Ninh-Hoa.com website, nơi để chúng ta, những đứa con Ninh Hòa xa quê hương có dịp gặp gỡ, trao đổi những vui buồn hôm nay và những kỷ niệm ngày xưa. Đây là một website chúng tôi truy cập nhiều nhất trong một năm qua.
Trong những thú vui tao nhã của con người rất nhiều, người thì thích làm thơ, người thì thích đánh cờ, riêng tôi duy chỉ có việc thưởng thức Trà làm cho mình thích thú không thể bỏ được, vì uống trà rất nhiều từ khi còn nhỏ cho nên biết chút ít về nó chứ không có tham vọng nghiên cứu về trà.
Hầu như mọi dân tộc, mọi xứ sở trên trái đất này đều biết uống trà, nhưng cách uống khác nhau thôi. Theo ưóc tính, đây là loại thức uống phổ thông nhất và mỗi ngày trên thế giới tiêu thụ không biết bao nhiêu tấn trà các loại. Nhưng có lẽ rất ít người biết đến cây trà được phát hiện đầu tiên trên thế giới và tục uống trà của nhân loại bắt nguồn từ Trung Hoa.
Theo cuốn sách Trà Kinh, viết vào năm 780, người ta biết uống trà bắt đầu từ thời vua Thần Nông, truyền sang Chu Công nước Lỗ. Như vậy, người Trung Hoa biết uống trà vào khoảng năm 3300 đến 3100 trước Công Nguyên. Qua các triều đại của Trung Hoa, tục uống trà và tác dụng của cây trà ngày càng được nâng cao, khai thác triệt để. Trà cũng theo con đường buôn bán tơ lụa, trao đổi hàng hóa tỏa đi khắp nơi trên thế giới.
Đến đời nhà Đường (618-907) cùng với thi ca, văn hóa trà Trung Quốc đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật thưởng thức trà được coi là không thể thiếu trong lĩnh vực sinh hoạt văn hóa dân tộc. Vào thời đó cuốn Trà Kinh ra đời do Lục Vũ viết và cuốn Trà Ca nhằm ca ngợi cũng như hướng dẫn cách dùng trà. Trong đó có luận bàn về phát minh về trà cũng như chuẩn mực thưởng thức trà đầu tiên của Trung Hoa.
Tương truyền có nhiều loại trà quí hiếm cực kỳ thơm ngon như Trảm mã trà, Bạch Mao hầu trà, Trùng điệp trà v.v... Trảm mã trà là loại trà mọc hoang trên Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên, Bạch mao hầu trà ở núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến, Trùng điệp trà là phân của những con sâu trà ở Ly Sơn tỉnh Thiểm Tây (Giống như cà phê cứt chồn Việt Nam).
Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hóa tôn giáo và vật chất, đem hòa quyện với văn hóa của họ và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.
Ở đây chỉ xin nói về trà, sản phẩn lấy chính từ cây trà, không nói đến nhiều loại thức uống vì cách thức uống giống như trà như trà khổ qua, trà sâm, trà Linh chi và còn rất nhiều loại herbs cũng gọi là trà. Trà có rất nhiều loại tùy theo cách để lên men và quá trình sấy khô cho nên tên gọi khác nhau. Trà ngon phải có đủ ba yếu tố đó là sắc, hương và vị, vì trước khi uống trà phải có màu sắc hấp dẫn, kế đến mùi hương độc đáo, ta mới nếm thử vài nhấp để đánh tan những gì còn đọng lại trong ta, sau cùng là từ từ uống trà. Ấm trà nóng tỏa lên hương thơm thanh cao tinh khiết, làm cho con người vượt lên trên những giới hạn tương đối, lòng ta cảm thấy thanh thoát. Uống chén thứ nhất thấy lòng tĩnh lặng, tâm không còn giao động, tự tìm được vào cõi tâm của mình. Uống chén thứ hai nơi ấn đường ấm nóng, tư duy khai thông. Uống chén thứ ba cả hai trạng thái trên biến mất, lúc đó thân và xác như hòa vào trong trời đất.
Các loại trà có trên thị trường hiện nay, đầu tiên là trà Long Tỉnh, loại trà này hái từ đọt của cây trà vào những buổi sáng tinh sương đem về chỉ phơi sấy khô. Là vì đọt của cây trà cho nên có rất nhiều tinh dầu, khi pha có màu vàng xanh lợt, hương thơm nhẹ nhàng như buổi sáng tinh mơ, có mùi vị ngọt ngào không thể tả được. Tùy thuộc vào cây trà và nơi trồng, chúng cho ta nhiều thứ hạng khác nhau. Trong mười loại trà danh tiếng nhất hiện nay tại Trung Hoa có hơn ba loại Long Tỉnh nằm trong danh sách ngon nhất và mắc tiền nhất.
Cùng một cách phơi sấy khô như trà Long Tỉnh, trà Xanh của người Nhật lấy từ những lá trà già hơn cho nên hương vị khác với trà Long Tỉnh rất nhiều.
Kế đến là trà Ô Long, loại này khi hái về phải ủ và để lên men một nửa, kỹ thuật này tùy thuộc vào các nhà sản xuất chế biến, cho nên họ thường dấu nghề. Trà Ô Long có màu vàng trông hấp dẫn, sau sáu bảy lần châm nước sôi, màu trà vẫn không thay đổi. Hương thơm ngạt ngào và có vị ngọt cứ đọng mãi trong cuống họng rất lâu sau khi uống. Người ghiền trà thích loại này nhất vì nó đầy đủ những yếu tố hòa đồng về sắc hương vị. Trà Ô Long, tại các tiệm bán trà danh tiếng như Thiên Nhân có hộp giá từ US$500 đến 1.000.
Thứ ba là loại trà rất phổ biến trong mọi tầng lớp tiêu thụ, trà để lên men toàn phần, cho nên có lượng Caffeine rất cao, cũng tùy vào sự chế biến trà này chia ra nhiều thứ hạng khác nhau đứng đầu là Thiết Quan Âm, trà Lài, trà Sen, trà Sói vân vân..Trà này có màu vàng đậm, hương hơi gắt và cũng vì để lên men lâu cho nên có thoang thoảng mùi mốc, vị chát. Theo thiển ý vì vậy các nhà sản xuất mới thêm nhị sen hoặc hoa lài vào. Vì lượng caffeine cao cho nên uống vô thấy đã ( tỉnh táo ) liền, nhưng chỉ pha có vài lần thì màu sắc và hương vị biến đổi nhanh chóng.
Sau cùng là loại trà đen, bên này mình hay gọi trà Lipton hay Red Rose. Ở Việt Nam và Trung Hoa họ ép trà này lại thành bánh cho dễ chuyên chở để bán cho các nhà hàng. Vào thế kỷ thứ 19 người Anh mua trà từ Trung Hoa mang về Anh Quốc, vì thời gian vận chuyển bằng tàu buồm rất lâu cho nên khi đến nơi, trà đã lên men tối đa vì vậy lượng caffeine cao nhất. Không chế biến trà được như người Trung Hoa cho nên người Anh phải thưởng thức trà đen như hiện nay. Các hãng chế trà Lipton ở đây, họ không thể nào có nguồn trà cung cấp từ một nơi hay một vườn trà với số lượng khổng lồ như vậy. Bởi vậy khi muốn làm cho mùi vị trà không thay đổi với số lượng lớn, họ phải cần đến các chuyên gia nếm trà và pha chế. Trà đen có màu đỏ đậm, có vị rất chát cho nên khi uống thường thêm sữa và đường vào như uống cà phê vậy.
Ở trên đời mỗi người có sự thích thú và hưởng thụ khác nhau, khi ta uống rượu thì say, khi ta uống trà thì tỉnh. Nhưng nào ai biết lúc nào mình tỉnh, lúc nào mình say, phải tỉnh say, say tỉnh để sống qua kiếp này.
|
|